Sử Quan Không Được Nói

Chương 3



Kiếp trước khi ta bị giam trong Thái Sử cục, từng qua song cửa nhìn thấy y từ xa một lần. Y đi ngang qua cổng Thái Sử cục, Thôi Tĩnh Chi quỳ mọp dưới đất hành lễ với y. Y không thèm đếm xỉa Thôi Tĩnh Chi, lại hơi nghiêng đầu, nhìn vọng về phía căn phòng nơi ta đang ở.

 

Chỉ một cái nhìn ấy, đã khiến ta ròng rã ba ngày mộng mị, áo lót thay hết mấy bộ.

 

Ta mơ thấy một lò luyện đan cao như ngọn núi, ngọn lửa hừng hực thiêu đốt suốt bảy bảy bốn mươi chín ngày. Khi cửa lò mở ra, bước ra từ trong đó chẳng phải là đan dược, mà là một con người.

 

Người đó khoác đạo bào màu nguyệt bạch, trên áo thêu hoa đào.

 

Lúc y bước ra, cả cõi trần gian đều đang chìm trong biển lửa.

 

Ta không đem giấc mộng đó kể cho bất kỳ ai. Bởi vì ta biết, đó chẳng phải quá khứ, đó là tương lai.

 

Là tương lai của Thẩm Tố.

 

Cũng là tương lai của tất thảy mọi người.

 

5

 

Ngày thứ ba sau Tết Thượng Nguyên, cung người lại phái kẻ đến.

 

Lần này không phải Cao Đức An, mà là hai tên tiểu thái giám gương mặt xa lạ, truyền lời rằng Quốc sư mời ta đến Đan Hà quan một chuyến.

 

Đan Hà quan ngự ở góc tây bắc của hoàng thành, tiếp giáp ao Thái Dịch, là đạo quán do Hoàng đế đặc biệt cho xây cất vì Quốc sư. Nghe đâu bên trong có ba mươi sáu gian đan phòng, bếp lò mỗi phòng ngày đêm lửa cháy không ngớt.

 

Thanh La cất tiếng hỏi: “Tiểu thư, Quốc sư tìm người làm gì?”

 

Ta không đáp. Bởi chính ta cũng muốn biết câu trả lời.

 

Kiếp trước Thẩm Tố chưa một lần tìm ta.

 

Y tựa hồ chim ưng lượn vòng trên không trung hoàng thành, cao cao tại thượng, nhìn xuống muôn dân, nhưng tuyệt chẳng bao giờ sà xuống mặt đất. Ít nhất, trong những năm tháng ta bị giam hãm, y chưa từng một lần đáp xuống.

 

Kiếp này y bỗng nhiên muốn gặp ta.

 

Chẳng lẽ vì ta đã buông lời “không thể” trên đài Quan Tinh?

 

Đan Hà quan yên ắng hơn ta tưởng. Chẳng thấy khói nhang nghi ngút như trong tâm trí, cũng chẳng có đạo sĩ ngược xuôi. Đạo quán thênh thang vắng lặng như tờ, thi thoảng chỉ vọng lại đôi tiếng hạc kêu từ sâu thẳm hồi lang.

 

Tiểu thái giám dẫn ta đến trước cửa một gian trà thất, rồi cung kính khom người lui ra.

 

Ta đẩy cửa bước vào.

 

Thẩm Tố đang ngồi tĩnh tọa dưới khung cửa sổ, bày sẵn trước mặt một bộ trà cụ, hai chén trà. Ngoài song cửa là một gốc mai già, hoa dẫu tàn nhưng cành lá vẫn xanh rờn. Tia nắng xuyên qua tán lá rọi xuống vạt đạo bào màu nguyệt bạch của y, cành hoa đào thêu trên áo dường như sống dậy.

 

“Dư cô nương, mời ngồi.”

 

Thanh âm của y rất khẽ, tựa như ngọn gió thổi qua ao Thái Dịch.

 

Ta ngồi xuống.

 

Y rót một chén trà đẩy đến trước mặt ta, rồi ngước mắt lên, đánh giá ta.

 

Đây là lần đầu tiên ta nhìn thấy gương mặt y ở khoảng cách gần như vậy.

 

Rất trẻ, trẻ trung hơn cả sức tưởng tượng của ta. Nếu không khoác bộ đạo bào và cái thân phận Quốc sư mà cả triều kiêng dè, trông y chẳng khác gì một công tử thế gia đang dùi mài kinh sử ở Thái học.

 

Nhưng đôi mắt y thì không phải.

 

Trong đôi mắt ấy ẩn chứa thứ gì đó thâm trầm khôn tả, tựa như thứ bùn lắng đọng ngàn năm, bên trên bị che khuất bởi làn nước trong veo.

 

Ta không nhìn thấu tương lai của y.

 

Sương mù đặc quánh. Sương mù dày đặc hơn bất cứ kẻ nào.

 

“Dư cô nương, ngày Thượng Nguyên ở đường Chu Tước, cô nương đã trông thấy ta.”

 

Đó không phải câu hỏi, ta giữ im lặng.

 

Y nâng chén trà của mình, thổi nhẹ màng sủi bọt, chậm rãi nhấp một ngụm.

 

“Cô nương thấy ta, ta cũng thấy cô nương. Ta thấy cô nương đang nhìn Triệu Hổ, thấy cô nương kéo tỳ nữ rời đi, và thấy cô nương ngoái đầu nhìn lại.” Y hạ chén trà, “Ta còn thấy, khoảnh khắc cô nương ngoái lại, ánh mắt mang theo sự kinh hãi.”

 

Y dừng lại đôi chút.

 

“Sự kinh hãi đó không phải dành cho Triệu Hổ.”

 

“Mà là dành cho ta.”

 

 

 

Gian trà thất lặng như tờ, y buông những lời ấy nhẹ bẫng, như thể đang kể một câu chuyện vô thưởng vô phạt. Tiếng hạc ngoài song cửa lại cất lên.

 

“Cô nương e sợ ta, cớ vì sao? Chúng ta dường như chưa từng giáp mặt.”

 

Ta nhìn thẳng vào mắt y. Sương mù dày quá, đặc quánh đến mức ta chẳng thể nhìn xuyên. Nhưng chính sự “không thể nhìn xuyên” này, lại gọi về giấc mộng kiếp trước — cửa lò bật mở, y bước ra từ biển lửa, cả nhân gian chìm trong bão lửa.

 

“Quốc sư đại nhân, ta không sợ ngài.”

 

“Ồ?”

 

“Ta sợ lửa.” Nửa câu sau ta giấu nhẹm đi, thứ ta sợ, là lửa bén đến thân mình.

 

Bàn tay đang bưng chén trà của y thoáng khựng lại.

 

Chỉ là một khoảnh khắc rất nhỏ, nhanh đến mức tưởng như chẳng thể phát giác. Nhưng ta đã nhận ra. Kiếp trước bị giam cầm bảy năm, ta mỗi ngày đều để mắt đến những kẻ đưa cơm, đưa thuốc, hỏi han cung hình. Quan sát từng biểu cảm biến ảo trên gương mặt họ, là chuyện duy nhất ta có thể làm.

 

Thẩm Tố đặt chén trà xuống, nhìn ta.

 

Ánh mắt y biến đổi. Không phải trở nên sắc bén hơn, mà là thêm phần thâm trầm. Cái sự thâm trầm ấy, tựa như một kẻ đột ngột xác nhận được điều gì đó.

 

“Dư cô nương, ta hỏi cô nương một chuyện.”

 

“Quốc sư cứ hỏi.”

 

“Tổ phụ cô nương là Dư Bá An, trước khi tạ thế, đã nói gì với cô nương?”

 

“Sử quan chỉ ghi chép, không cất lời.”

 

“Không đúng.” Y lắc đầu, “Đó là lời ngoài sáng. Lời cất giấu trong tối, ông ấy chưa nói ra, nhưng cô nương tường tận.”

 

Những ngón tay giấu trong tay áo của ta khẽ siết chặt.

 

Thẩm Tố đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, quay lưng về phía ta. Nắng kéo bóng y trải dài, kéo dài đến tận gót chân ta, tuyệt không vượt quá nửa phân.

 

“Thái Sử cục mười một đời. Bắt đầu từ đời Thái Sử Lệnh đầu tiên là Dư Quan, Dư gia đã nắm giữ một bí mật.” Tiếng y theo gió vọng tới, thong dong mà từ tốn, “Bí mật này, Sử quan mọi thời đại đều biết rõ, nhưng không một ai dám chắp bút ghi vào sử sách.”

 

“Bởi vì những thứ ghi vào sử sách, gọi là lịch sử.”

 

“Còn những thứ không được ghi lại, gọi là thiên cơ.”

 

Y xoay lưng lại, ngược chiều ánh sáng mà nhìn ta. Gương mặt chìm trong bóng râm, duy chỉ đôi mắt là sáng bừng rực rỡ.

 

“Dư cô nương, tổ phụ cô nương đã đem thiên cơ truyền lại cho cô nương.”

 

“Có đúng không?”

 

Trà đã nguội ngắt.

 

Bên ngoài lại vọng đến một tiếng hạc, the thé hơn ban nãy.

 

Ta cúi đầu rũ mắt nhìn hình bóng mình soi dưới đáy chén. Mặt nước phản chiếu dung nhan tuổi mười lăm, ngây ngô, nhợt nhạt, nhưng trong đôi mắt lại hằn sâu thứ chất chứa mà tuổi mười lăm không nên có.

 

“Quốc sư đại nhân.” Ta ngẩng đầu lên, “Ngài luyện đan, là vì cớ gì?”

 

Y nín lặng, chẳng đáp lấy một lời.

 

Ta tiếp lời: “Bệ hạ mong cầu trường sinh, thế nên Quốc sư luyện đan. Việc này khắp cả triều đình đều hay. Nhưng ta lại nhìn thấy—”

 

Ta ngưng bặt, không có ý định nói thêm.

 

Thẩm Tố nhìn ta, mang theo vài tia dò xét: “Cô nương nhìn thấy điều gì?”

 

Ta nhìn thấy cửa lò bật mở, ngài bước ra từ ngọn lửa bừng bừng.

 

Ta nhìn thấy cả nhân gian chìm trong biển lửa.

 

Ta nhìn thấy ngài đứng giữa trung tâm cõi trần rực cháy, vạt đạo bào màu nguyệt bạch bám đầy tro tàn, chỉ riêng cành đào thêu nọ là nguyên vẹn vẹn toàn.

 

Nhưng, ta không thể nói.

 

“Ta nhìn thấy trên vạt đạo bào của Quốc sư đại nhân có thêu hoa đào.”

 

“Đạo sĩ ở Thượng Kinh, chẳng ai lại đi thêu hoa lên đạo bào.”

 

Thẩm Tố im lặng một đỗi, bỗng bật cười.

 

Nụ cười nhàn nhạt, tựa nụ mai đầu đông hé nở.

 

“Đây là hoa ở quê hương ta.” Y cất lời, “Ta rời xa quê hương quá lâu, rốt cuộc cũng phải mang theo chút gì đó bên mình.”

 

Y bước trở lại, ngồi xuống đối diện ta, giũ nhẹ vạt tay áo, rót thêm một chén trà. Lần này y không đẩy sang cho ta, mà tự thân nâng lên chậm rãi nhấp nháp.

 

 

 

“Dư cô nương, cô nương nói Sử quan chỉ ghi chép không cất lời. Thế nhưng cô nương đã bao giờ nghĩ tới, nếu bản thân sự ghi chép, vốn dĩ đã là một cách cất lời?”

 

Ta sững người.

 

Y ngước mắt lên, đối diện với ta.

 

“Tổ phụ Dư Bá An của cô nương, làm Thái Sử Lệnh trọn kiếp người. Lão đã ghi chép cả một đời, cũng ngậm miệng im lặng cả đời. Nhưng trước lúc lâm chung, lão lại trao truyền bí mật này cho cô nương. Tại sao?”

 

“Bởi vì lão biết, có những thứ ghi chép, không thể mãi mãi chôn vùi trong câm lặng.”

 

“Lúc nên mở lời mà không mở lời, và lúc nên ghi chép mà chẳng ghi chép, thảy đều là tội.”

 

Gian trà thất chìm vào thinh lặng hồi lâu.

 

Ta nghe rõ nhịp tim của chính mình, từng nhịp, từng nhịp, rất chậm, rất nặng.

 

“Quốc sư đại nhân, ngài muốn ta nói điều gì?” Ta nghe thấy giọng mình khô khốc vẳng lại.

 

Thẩm Tố đặt chén trà xuống. Chén trà va chạm xuống mặt bàn một tiếng “kịch” thật khẽ, tựa như trần ai lạc định.

 

“Hiện tại vẫn chưa đến lúc, ta có thể đợi cô nương.”

 

Y ngập ngừng, như đang đắn đo tìm từ ngữ.

 

“Chờ khi nào cô nương cảm thấy có thể cất lời, hãy quay lại đây.”

 

Y bước ra ngạch cửa, vạt áo quét qua khung cửa. Ta ngỡ y đã rời đi, y bỗng khựng bước, hơi nghiêng đầu, sườn mặt hướng về phía ta.

 

“Về phần tỳ nữ kia của cô nương.”

 

Ngón tay ta trong tay áo bấu chặt.

 

“Triệu Hổ là người của ta.” Lúc nói ra câu ấy, ngữ khí của y phẳng lặng, y hệt như đang cảm thán thời tiết hôm nay thật đẹp. “Đó không phải là hành sự phong cách của ta, ta cũng chẳng thèm bày ra vở kịch này.”

 

Y im lặng chốc lát.

 

“Có những kẻ, có những chuyện, cô nương đã từng ngăn cản, phải không.”

 

Ta không đáp lời.

 

Y cũng chẳng để ta cơ hội đáp lại. Đẩy cửa bước ra, ánh tuyết ùa vào, y tiến thẳng vào vạt sáng trắng xóa ấy.

 

“Cô nương rõ ràng hơn ai hết.” Âm thanh từ trong luồng sáng truyền tới, bức bối trầm đục.

 

Y đi rồi.

 

Gian trà thất chỉ còn lại một mình ta, và chén trà lạnh ngắt.

 

Ngoài song cửa, cành lá gốc mai già khẽ đung đưa trong gió. Ta thấy một chiếc lá vàng lìa cành, chao nghiêng đáp xuống bậc cửa sổ, rồi bị cơn gió tiếp theo cuốn bay đi.

 

Ta nhìn thấy nó sẽ rơi xuống hồ Thái Dịch.

 

Thấy nó sẽ nổi trôi trên mặt nước ba ngày liền.

 

Thấy nó cuối cùng chìm xuống, vùi lấp dưới lớp bùn lầy đáy hồ, trăm năm sau hóa thành mảnh hổ phách, được một đứa trẻ buông câu vớt lên.

 

Đứa cháu nội của đứa trẻ đó, sẽ trở thành Thái Sử Lệnh kế nhiệm.

 

Đó chính là năng lực của Sử quan.

 

Nhìn thấy quá khứ, thấu tỏ tương lai, nhìn thấu đường tơ nhân quả vô hình giăng mắc giữa vạn sự vạn vật.

 

Thế nhưng Thẩm Tố nói đúng.

 

Việc nhìn thấy, bản thân nó đã là một dạng cất lời.

 

Từ lúc rời Đan Hà quan trở về, trong cung yên ắng đi một đoạn thời gian.

 

Hoàng đế không còn triệu kiến ta, Thẩm Tố cũng bặt vô âm tín. Chỉ mùng một mười lăm mỗi tháng, ta nương nhờ lệnh bài Cao Đức An đưa vào cung, dâng mình đến Từ Ninh cung của Thái hậu sao chép kinh Phật. Thái hậu là vị lão phụ nhân kiệm lời, quanh năm suốt tháng ngoài tụng kinh thì chỉ chăm nom hoa cỏ, đối đãi với sự hiện diện của ta không vồn vã cũng chẳng lạnh nhạt, tựa hồ ta chỉ là cuộn kinh văn thừa thãi trong Phật đường.

 

Ngày tháng như vậy trôi qua hai tháng.

 

Ta ngỡ mọi chuyện sẽ cứ thế dần dần lắng xuống. Ta giữ kín bí mật, rời xa trung tâm vòng xoáy, đợi mọi chuyện trần ai lạc định, sẽ mang Thanh La rời khỏi Thượng Kinh, đến một nơi không ai biết danh tính ta.

 

Nhưng tương lai ta nhìn thấu lại báo cho ta biết, đây chỉ là khoảng bình lặng trước cơn bão.

 

Mùng năm tháng năm Tết Đoan Ngọ, Hoàng hậu triệu ta nhập cung.

 

Trung cung của Hoàng hậu ngự ở phía đông hoàng thành, quy mô đồ sộ gấp đôi Từ Ninh cung của Thái hậu. Lúc ta bước vào, Hoàng hậu đang ngự trên phượng ỷ, tả hữu có hai nữ quan đứng hầu, còn có cả một kẻ quen mặt

Chương trước Chương tiếp
Loading...