Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và
Mở Ứng Dụng Shopee để mở khóa toàn bộ chương truyện!
Sử Quan Không Được Nói
Chương 2
Hắn tên Thôi Tĩnh Chi, mới độ ba mươi bảy, xuất thân bàng chi Thanh Hà Thôi thị, đỗ Tiến sĩ, mài đũng quần ở Hàn Lâm viện suốt mười năm trời mà vẫn không ngóc đầu lên nổi. Bị đẩy đến Thái Sử cục, kể như là minh thăng ám giáng.
Ngày Thôi Tĩnh Chi đến, cây đào trong viện dường như tản đi chút sinh khí. Hắn đặc biệt đến bái phỏng ta.
“Dư tiểu thư.”
Hắn đứng trong viện, không bước vào nhà, chỉ cách ngạch cửa nói chuyện với ta, “Tổ phụ Dư công là vị lão nhân gia trải mười một đời ở Thái Sử cục, Thôi mỗ chân ướt chân ráo tới đây, có nhiều điều chưa rõ muốn xin chỉ giáo.”
Ta lẳng lặng nhìn hắn.
Kiếp trước, Thôi Tĩnh Chi là người đầu tiên phát hiện ra ta có năng lực dự tri tương lai. Hắn bới móc cựu đương trong Thái Sử cục, tìm thấy bút tích tổ phụ để lại, từ đó suy đoán ra một bí mật truyền miệng trong thế gia Sử quan — giữa các đời Thái Sử Lệnh, cứ cách hai ba đời, sẽ xuất hiện một người có thể “nhìn thấy lịch sử”.
Hắn không bẩm báo chuyện này.
Hắn lén lút tìm ta, muốn ta giúp hắn. Hắn bảo hắn không màng phú quý, chỉ cầu lưu danh sử sách.
Ta đã tin.
Sau này ta mới rõ, thứ gọi là “lưu danh sử sách” của hắn, là muốn ta vào mỗi lần Hoàng đế hỏi han, giấu nhẹm đi những lời tiên tri bất lợi cho hắn, và phóng đại những lời dự ngôn bất lợi cho kẻ thù chính trị của hắn.
Nhờ dự ngôn của ta, hắn từng bước leo lên vị trí trung xu.
Tên tình lang Triệu Hổ của Thanh La, chính là người do hắn cắm vào.
“Dư tiểu thư?” Thanh âm của Thôi Tĩnh Chi kéo ta về thực tại.
Ta rũ mắt, hơi hạ mình nhún gối: “Thôi đại nhân khách sáo rồi. Di vật tổ phụ để lại, ta đều thu xếp trong thư phòng, đại nhân nếu cần, cứ tùy ý đến lấy.”
“Vậy thì đa tạ.” Hắn khẽ mỉm cười, quay lưng rời đi.
Ta đã nhìn thấy tương lai của hắn.
Hắn sẽ thăng quan, sẽ phát tài, sẽ bị liên lụy trong cuộc đảng tranh ba năm sau, chịu án lưu đày Lĩnh Nam, rồi bạo bệnh chết nơi dọc đường.
Đây là bản mệnh của hắn.
Nhưng, nếu ta mở lời, số mệnh của hắn sẽ đổi thay.
Kiếp trước, ta từng ba lần đổi mệnh cho hắn, mỗi một lần đều đẩy hắn lên vị trí cao hơn, mỗi một lần cũng khiến hắn ngã thê thảm hơn. Lần cuối cùng, hắn quỳ rạp dưới chân ta, cầu xin ta cứu mạng. Ta bảo ta vô phương cứu chữa. Hắn gào lên rằng rõ ràng ta có thể nhìn thấy, vì cớ gì không thể cứu?
Ta nói, bởi vì Sử quan chỉ ghi chép, không cất lời. Một khi cất lời, chính là soán cải thiên cơ.
Hắn không tin.
Đến lúc chết hắn vẫn không tin, việc ta đổi mệnh cho hắn, thực chất là đang hại hắn.
Kiếp này, ta sẽ không đổi cho hắn dù chỉ một nét bút.
Thôi Tĩnh Chi đi rồi, Thanh La bưng trà bước vào. Nàng ta năm nay mười bảy, lớn hơn ta hai tuổi, là nha hoàn được tổ phụ mua về từ lúc người còn tại thế, đã hầu hạ ta năm năm rồi.
“Tiểu thư, vị Thôi đại nhân này thoạt nhìn có vẻ là người dễ gần.”
Ta đón lấy chén trà, không uống.
“Thế sao?”
Ta bồi thêm một câu: “Ngươi cảm thấy hắn dễ gần?”
Thanh La gật đầu: “Ngài ấy nói năng hòa nhã, lại còn đặc biệt đến bái phỏng tiểu thư, so với những quan lão gia trước kia thì tốt hơn nhiều.”
Ta lặng lẽ ngắm nhìn gương mặt nàng ta.
Vào thời điểm này ở kiếp trước, nàng ta vẫn chưa gặp Triệu Hổ. Triệu Hổ là người nàng ta đụng phải trong hội đèn lồng Tết Thượng Nguyên hai tháng sau, khi đi mua kẹo hồ lô cho ta. Một tên thị vệ Đông cung tuấn lãng, nhặt chuỗi kẹo hồ lô rơi trên đất lên, mỉm cười với nàng ta.
Chỉ vì một nụ cười ấy, Thanh La nhớ nhung cả đời.
Cũng hại ta một đời.
“Thanh La.” Ta gọi giật nàng ta lại khi nàng vừa định lui ra.
“Sao thế tiểu thư?”
“Đêm Thượng Nguyên, chúng ta không đi xem đèn nữa.”
Nàng ta thấy ta nói quả quyết như vậy, hơi sững người, nhưng rồi cũng bật cười: “Vâng, tiểu thư nói không đi thì sẽ không đi.”
Nụ cười của nàng ta ngoan ngoãn đến thế, thuần phục đến thế. Kiếp trước ta cũng từng tin tưởng nàng ta như vậy.
Nhưng ta đã nhìn thấy tương lai ba ngày sau của nàng ta — khi nàng ta đang giặt y phục ở hậu viện, sẽ có một bàn tay thò vào từ tường vây, trên tay nắm một chuỗi kẹo hồ lô.
Đó là Triệu Hổ.
Thứ đáng đến, không thể né tránh, mệnh thuật vốn dĩ là thế.
3
Ngày thứ bảy sau khi tổ phụ mất, người trong cung đến.
Kẻ đến là Ngự tiền Tổng quản Cao Đức An, mang theo hai gã tiểu thái giám, tay nâng một đạo khẩu dụ.
Giọng nói lanh lảnh vang lên, “Khẩu dụ của Bệ hạ: Tuyên Dư thị nữ nhập cung, diện thánh tại Quan Tinh đài.”
Quan Tinh đài là nơi cao nhất trong hoàng cung, cũng là nơi Hoàng đế lén lút triệu kiến bọn phương sĩ, thuật sĩ, chiêm tinh gia. Từ thuở Thái tổ bản triều định đỉnh giang sơn đã lập ra quy củ: Hậu cung không được can chính, tăng đạo phương thuật, tuyệt không được nhập cung. Nhưng đến những năm cuối đời của Hoàng đế đương triều, quy củ này sớm đã chẳng còn ý nghĩa gì.
Kiếp trước, ta cũng bị gọi vào cung như thế.
Đó là lần đầu tiên ta diện kiến Hoàng đế.
Ngài chắp tay đứng trên đỉnh cao nhất của Quan Tinh đài, quay lưng về phía ta, khoác thân thường phục màu huyền, mái tóc đã hoa râm nhưng thân hình vẫn còn uy trĩ. Nghe thấy tiếng ta quỳ bái, ngài không buồn ngoảnh mặt lại, chỉ buông một câu: “Nghe nói ngươi có thể nhìn thấu tương lai?”
Kiếp trước, ta quỳ rạp ở đó. Cả thân hình run rẩy, một chữ cũng không tài nào thốt lên.
Cao Đức An đứng bên cạnh nhắc nhở: “Bệ hạ đang hỏi ngươi đấy.”
Ta hé miệng, nói: “Vâng.”
Chỉ vì một chữ đơn độc ấy, mà hủy hoại cả cuộc đời ta.
Kiếp này, ta quỳ ở đúng vị trí đó, nghe thấy đúng câu hỏi đó.
“Nghe nói ngươi có thể nhìn thấu tương lai?”
Ta phục sát đất, trán dán chặt xuống nền gạch đá lạnh lẽo, đáp: “Dân nữ không thể.”
Tĩnh mịch.
Một sự tĩnh mịch chết chóc.
Sau đó, ta nghe thấy tiếng bước chân từ xa tiến lại gần. Hoàng đế quay người, bước đến trước mặt ta. Ngài đi giày vân đầu, mũi giày thêu rồng cuộn chỉ vàng, vừa vặn dừng lại cách tầm mắt ta khoảng chừng một thước.
“Ngẩng đầu lên.”
Ta từ từ ngẩng đầu, ánh mắt tĩnh lặng chẳng vương mảy may gợn sóng tựa như nước dưới vực sâu.
Hoàng đế thoạt nhìn trẻ trung hơn so với lúc ta gặp ngài ở kiếp trước — không, là bởi ta đến sớm hơn kiếp trước hai tháng. Trên gương mặt ngài chưa hằn rõ nét mỏi mệt, sợi bạc trên thái dương cũng thưa thớt hơn, một đôi mắt vừa sâu vừa trầm, giống như hai giếng cổ sâu không thấy đáy.
“Tổ phụ ngươi là Thái Sử Lệnh Dư Bá An?”
“Phải.”
“Lão nhân gia truyền đời thứ mười một của Thái Sử cục.” Hoàng đế chắp tay sau lưng, “Trẫm nhớ, lúc tổ phụ ngươi còn sống, từng dâng sớ khuyên trẫm đừng dùng kim đan. Lão bảo đế vương các triều đại cầu trường sinh, không ai không chết yểu. Trẫm, đã không nghe lão.”
Ngài ngập ngừng đôi chút, lại hỏi: “Trước lúc lâm chung, tổ phụ ngươi đã dặn dò ngươi những gì?”
Ta nhìn thẳng vào mắt ngài.
Kiếp trước ta không dám nhìn vào mắt Hoàng đế. Ta không dám nhìn vào mắt bất kỳ ai, bởi vì chỉ cần giao tâm, ta sẽ nhìn thấy tương lai của họ. Những tương lai ấy quá đỗi nặng nề, nặng nề đến mức một thiếu nữ mười mấy tuổi như ta căn bản không gánh nổi.
Nhưng kiếp này, ta đã gánh chịu qua rồi.
Ta trực diện nhìn vào đôi mắt Hoàng đế, nhìn thấy tương lai của ngài.
Hai năm sau ngài sẽ bắt đầu dùng “Trường Sinh Đan” do phương sĩ dâng lên, long thể ngày một suy nhược, nhưng tinh thần lại dị thường hưng phấn, bởi trong đan dược có pha trộn Ngũ thạch tán.
Ngài sẽ liên tiếp hạ mười ba đạo thánh chỉ thanh trừng triều đình, sát hại Thái tử, phế truất Hoàng hậu, ép ba vị phiên vương tạo phản. Ngài sẽ đứng trên Quan Tinh đài, chỉ tay lên vòm trời nói trẫm nhìn thấy tiên nhân rồi, sau
đó hạ lệnh xây dựng một tòa Thông Thiên Tháp trong hoàng cung.
Ngày Thông Thiên Tháp khánh thành, ngài sẽ bỏ mạng trên đỉnh tháp, thất khiếu lưu huyết.
Tam hoàng tử Chu Diễn cõng thi thể ngài từ trên tháp xuống, văn võ bá quan quỳ mọp thành một mảng. Chu Diễn rơi lệ ròng rã, khóc lóc bảo: Phụ hoàng lâm chung lưu lại di chiếu, truyền ngôi cho nhi thần.
Không ai hay biết đạo di chiếu ấy là ngụy tạo.
Bởi vì những kẻ biết chuyện, thảy đều đã chết.
Ta thu lại ánh mắt từ tương lai của ngài, một lần nữa rạp mình cúi lạy.
“Bẩm Bệ hạ, trước lúc lâm chung tổ phụ chỉ để lại một câu.”
“Câu gì?”
“Người dặn, Sử quan chỉ ghi chép, không cất lời.”
Hoàng đế trầm ngâm hồi lâu.
“Hay cho câu chỉ ghi chép không cất lời.” Ngài bỗng bật cười một tiếng, trong tiếng cười ẩn chứa hàm ý khó lường, “Tổ phụ ngươi cả đời nói lời ngay thẳng, cuối cùng lại dạy cháu gái mình phải ngậm miệng. Có thú vị đấy.”
Ngài xoay người, bước lại bên bờ lan can, quay lưng về phía ta.
“Ngươi lui xuống đi.”
“Rõ.”
Khi ta men theo bậc thang Quan Tinh đài lùi xuống, Cao Đức An vội vã đuổi theo, nhét vào tay ta một tấm yêu bài.
“Dư cô nương, Bệ hạ ban chỉ, tấm yêu bài này cô nương cứ cất lấy. Ngày sau trong cung có triệu kiến, cô nương cứ bằng vào tấm lệnh bài này mà nhập cung. Nếu có ai dò hỏi, thì bảo Bệ hạ thương xót hậu nhân của Dư công, cho phép cô nương ngày mồng một mười lăm hàng tháng vào cung chép kinh cho Thái hậu.”
Ta nhận lấy tấm lệnh bài.
Cao Đức An hạ giọng: “Dư cô nương, nhà ta mạn phép lắm mồm một câu. Những năm qua, phương sĩ thuật sĩ được Bệ hạ triệu kiến không được một trăm cũng phải tám mươi, kẻ nào kẻ nấy thảy đều khoác lác có thể thông quỷ thần, biết tương lai. Cô nương là người đầu tiên bị hỏi mà đáp lời ‘không thể’.”
Lão nhìn ta một cái thật sâu, rồi xoay lưng rời đi.
Ta siết chặt tấm yêu bài trong tay, đứng lặng dưới chân cung tường.
Hoàng đế kiếp trước cũng từng ban cho ta một khối yêu bài, nhưng lúc đó ta đã nói chữ “Vâng”. Thế là tấm yêu bài ấy hóa thành sợi xích sắt siết chặt quanh cổ ta, việc sao chép kinh thư vào mùng một mười lăm hàng tháng, biến thành những lời tiên tri trước mỗi buổi lâm triều.
Lần này ta nói “Không thể”.
Thế nhưng tấm yêu bài vẫn nằm gọn trong tay ta.
Có những thứ, muốn trốn cũng không trốn được. Chỉ đành đổi một phương thức khác để nghênh đón mà thôi.
4
Tết Thượng Nguyên đến.
Khắp thành giăng kín đèn hoa, hai bên đường Chu Tước treo đầy đủ loại lồng đèn sặc sỡ, đèn thỏ ngọc, đèn liên hoa, đèn tẩu mã, chiếu sáng cả con phố rực rỡ như ban ngày.
Ta vẫn còn nhớ lời thề với Thanh La rằng sẽ không đi xem đèn, nhưng ta đã nuốt lời.
Không phải ta không kiềm lòng được, mà là do ta đã nhìn thấy tương lai của nàng ta — nếu ta không đi, nàng ta sẽ gặp gỡ Triệu Hổ tại hội đèn lồng, rồi theo Triệu Hổ rời đi. Sáng hôm sau trở về, trên cổ nàng ta sẽ hằn thêm một vệt đỏ, ánh mắt sẽ đổi khác.
Đó không phải là dấu vết bị cường bạo, mà là tâm tâm niệm niệm cam tâm tình nguyện.
Con người Triệu Hổ, sinh ra đã có bộ da đẹp đẽ, lại càng có cái miệng dẻo quẹo. Hắn có thể trong vòng ba ngày khiến một nữ nhân phải sống chết vì hắn. Kiếp trước hắn làm được, kiếp này hắn vẫn thừa sức làm được.
Cho nên ta phải đi.
Không phải để ngăn cản — ta biết có ngăn cũng vô ích. Ta đi để nhìn cho tỏ tường, kẻ đứng sau giật dây Triệu Hổ rốt cuộc là ai.
Kiếp trước ta luôn đinh ninh Triệu Hổ là người của Thôi Tĩnh Chi. Nhưng trước lúc nhắm mắt Thanh La nói “Hắn là người của Chu Diễn”, ta mới vỡ lẽ mình đã nhầm.
Thôi Tĩnh Chi hay Triệu Hổ, thảy đều chỉ là những quân cờ. Kẻ đánh cờ thật sự, trước sau luôn ẩn nấp sau bức màn.
Đêm hội lồng đèn Thượng Nguyên, chính là nước cờ đầu tiên trên bàn cờ ấy.
Ta dẫn Thanh La rời phủ.
Nàng ta vui sướng như một đứa trẻ, cứ lôi kéo ta lát xem lồng đèn này, lát ngắm lồng đèn kia. Ta mặc cho nàng ta kéo đi, ánh mắt thì mải miết rà soát trong đám đông.
Chẳng mấy chốc, ta đã nhìn thấy Triệu Hổ.
Hắn khoác trường bào màu lam sẫm, bên hông lủng lẳng tấm yêu bài của thị vệ Đông cung, đang đứng cạnh gã bán kẹo hồ lô, trò chuyện cùng ai đó. Kẻ nói chuyện với hắn đang quay lưng về phía ta, thân hình dong dỏng cao, khoác một bộ đạo bào màu nguyệt bạch, đầu đội màn sa, cộng thêm dòng người đông đúc, không sao nhìn rõ dung nhạo.
Triệu Hổ đi trước, kẻ mặc đạo bào kia sau đó cũng quay lưng hướng về một ngả khác.
Đúng ngay khoảnh khắc hắn xoay người, ta đã nhìn thấy sườn mặt hắn.
Rất trẻ. Tầm đôi mươi. Xương mày cao nhô, sống mũi thẳng tắp, đường nét cằm góc cạnh sắc bén. Không giống cái tướng mạo tròn trịa thường thấy của người Thượng Kinh, mà thiên về cốt cách vùng Tây Bắc.
Ta không nhìn thấu tương lai của hắn.
Sử quan không nhìn thấu mệnh của mình, cũng không nhìn thấu mệnh của chí thân. Ngoài những điều đó, chỉ có một loại người mà ta không thể bề tỏ — kẻ đại ác, hoặc kẻ đại quý. Mệnh cách quá nặng nề, tựa như một lớp sương mù đặc quánh, che lấp đi tất thảy.
Kiếp trước ta từng gặp qua vài người như thế, mỗi một người đều là kẻ khuấy đảo thiên hạ.
“Tiểu thư!” Thanh La bỗng thảng thốt kêu lên một tiếng.
Ta hoàn hồn, thấy nàng ta đang ngồi xổm trên mặt đất, nhặt xâu kẹo hồ lô vừa đánh rơi.
Giúp nàng ta nhặt lên, là một bàn tay. Móng tay cắt tỉa gọn gàng, đốt ngón tay rõ rệt, hổ khẩu hằn một lớp vết chai mỏng — đó là vết chai chỉ có ở những kẻ quanh năm tập luyện đao kiếm.
Triệu Hổ.
Hắn mỉm cười với Thanh La, đưa xâu kẹo hồ lô qua: “Cô nương, của cô nương đây.”
Mặt Thanh La nháy mắt ửng đỏ bừng.
Y hệt.
Khúc dạo đầu hệt như kiếp trước.
Ta đứng cách đó ba bước, lẳng lặng quan sát tất cả. Ánh mắt Triệu Hổ vượt qua Thanh La, rơi xuống người ta, hơi khựng lại, rồi gật đầu với ta.
“Vị này là?”
“Là tiểu thư nhà ta.” Thanh La vội vã đứng dậy, nhét xâu kẹo hồ lô vào tay ta, “Tiểu thư, vị công tử này giúp ta nhặt kẹo hồ lô lên đấy.”
Ta trực diện nhìn vào mắt Triệu Hổ.
Tương lai của hắn trải rõ rành rành trước mắt ta: Hắn sẽ thú Thanh La, sẽ được phong làm Phó thống lĩnh Cấm quân sau khi Chu Diễn đăng cơ, sẽ vào năm ba mươi tuổi chỉ vì một lỗi lầm nhỏ nhặt mà chọc giận Chu Diễn, bị đánh chết bằng gậy ngay trước cổng Đông cung.
Lúc hắn chết, Thanh La đang mang thai đứa con thứ hai của họ.
“Đa tạ.” Ta nhạt nhẽo đáp.
Triệu Hổ chắp tay: “Tiện tay mà thôi. Cô nương là…”
“Dư thị.”
Lông mày hắn khẽ động: “Dư công của Thái Sử cục…”
“Là tổ phụ.”
“Thất kính.” Hắn lùi lại nửa bước hành lễ, “Tại hạ thị vệ Đông cung Triệu Hổ. Đại danh Dư công, tại hạ đã nghe danh từ lâu.”
Hắn dĩ nhiên đã nghe danh từ lâu.
Thị vệ Đông cung, tai dài hơn ai hết, nơi nào mà chẳng hay thấu.
Ta không nói thêm lời nào, kéo Thanh La cất bước. Đi được một quãng khá xa, ta ngoái đầu nhìn lại — Triệu Hổ vẫn đứng tại chỗ, dõi mắt nhìn theo chúng ta. Lẫn lộn trong đám đông cách hắn không xa, vạt đạo bào màu nguyệt bạch kia chợt lướt qua.
Ta nhìn rõ ám văn thêu trên gấu áo đạo bào.
Là một cành hoa đào.
Người mặc đạo bào ở Thượng Kinh đếm không xuể, nhưng thêu hoa đào lên đạo bào, ta chỉ nghe nói có một người.
Quốc sư Thẩm Tố.
Hai mươi ba tuổi. Nhập kinh năm năm trước, ba năm trước được Hoàng đế phong làm Quốc sư. Nghe đồn y tinh thông thuật luyện đan, hô phong hoán vũ, có thể đối thoại với quỷ thần. Hoàng đế đối với y càng là răm rắp nghe lời, văn võ bá quan không ai dám đắc tội y.