Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và
Mở Ứng Dụng Shopee để mở khóa toàn bộ chương truyện!
Chị Dâu Của Cả Doanh Trại
Chương 5
Giọng rất nhỏ, chỉ đủ để một mình tôi nghe thấy.
“Đừng trút giận lên bản thân mình. Bọn họ không đáng.”
Tay tôi ngừng run rẩy.
Tần Quốc Đống và Triệu Lan Lan rời đi, bát mì không hề đụng đến một đũa.
Lúc đi ra cửa, Triệu Lan Lan còn chửi đổng một câu: “Đúng là thứ đồ bỏ, nuôi tốn cơm tốn gạo rước về một con sói mắt trắng.”
Tôi không lên tiếng.
Hạ Chinh bưng hai bát mì kia đi đổ, từ đầu chí cuối không hé răng nửa lời.
Nhưng tối hôm đó, anh nấu tới bốn món ăn.
Cá kho tùng xẻo, khoai tây thái sợi xào chua cay, rau xào tỏi, và một bát canh cà chua trứng.
Toàn là những món hồi trước tôi từng tiện miệng bảo thích ăn khi chat với anh.
Anh đã nhớ suốt 3 năm qua.
Đến miếng thứ ba, tôi không kìm được nữa, nước mắt rơi lã chã vào bát cơm.
Anh vờ như không thấy, nhưng lại nhẹ nhàng đưa cho tôi một tờ khăn giấy.
7
Tôi cứ nghĩ chuyện của Tần Quốc Đống đến đây là kết thúc.
Nhưng ngày thứ bảy lại xảy ra một chuyện, kéo toàn bộ sự việc chuyển sang một hướng hoàn toàn khác.
Hai giờ chiều hôm đó, quán thưa khách, tôi đang ngồi sau quầy thu ngân tính toán sổ sách. Hạ Chinh ngồi trong góc đọc một cuốn tạp chí cũ, tốc độ lật trang của anh nhanh một cách bất thường, tầm 2-3 giây một trang, tôi nghi ngờ anh không phải đang đọc, mà là đang quét dữ liệu.
Cửa bị đẩy ra.
Người bước vào không phải khách hàng, mà là hai người mặc đồng phục — cảnh sát.
“Tần Lộc?”
“Là tôi.”
“Yêu cầu cô phối hợp một chút, về đồn làm biên bản. Bố cô là Tần Quốc Đống bị người ta đánh trọng thương phải nhập viện rồi. Ông ấy khai là do bạn trai cô đánh.”
Tôi sững sờ.
Hạ Chinh đặt cuốn tạp chí xuống, đứng dậy bước tới.
“Tôi đánh? Khi nào?”
Hai viên cảnh sát nhìn thấy anh, ánh mắt rõ ràng thay đổi. Khí chất toát ra từ những người từng đi lính quá rõ nét, từ tư thế đứng, nét mặt cho đến nhịp độ nói chuyện đều khác hẳn người thường.
“Tối qua có người vây đánh Tần Quốc Đống ở phố cổ phía Bắc thành. Tần Quốc Đống chỉ đích danh là cậu.”
Hạ Chinh nhíu mày.
Tối qua anh ở quán mì suốt, từ 5 giờ chiều đến 11 giờ đêm không hề rời khỏi, vì tối có một nhóm khách bao trọn quán để tổ chức sinh nhật, chúng tôi bận tối tăm mặt mũi đến tận 11 giờ mới đóng cửa.
Tôi lập tức giải thích rõ tình hình.
Một viên cảnh sát ghi chép lại, vẻ mặt hơi do dự.
“Có thể trích xuất camera để xác minh không?”
“Được chứ. Trước cửa quán có camera, tôi có lưu lại video.” Tôi mở máy tính, trích xuất đoạn băng ghi hình tối qua. Thời gian, hình ảnh, nhân vật đều hiện lên rõ mồn một — Hạ Chinh cả đêm đều ở tiệm.
Hai viên cảnh sát xem xong, đưa mắt nhìn nhau.
“Được rồi, chúng tôi sẽ điều tra thêm. Cứ làm biên bản trước đã.”
Trên đường đến đồn cảnh sát làm biên bản, Hạ Chinh gọi một cuộc điện thoại.
Không biết anh gọi cho ai, nhưng cuộc đối thoại rất ngắn gọn.
“Điều tra camera ở phố cổ phía Bắc thành tối hôm qua. Có người bị đánh. Tôi cần biết kẻ nào làm.”
Đến đồn cảnh sát, việc lấy lời khai diễn ra rất nhanh. Sự thật đã rõ ràng, Hạ Chinh có bằng chứng vắng mặt, lời cáo buộc vô căn cứ.
Nhưng Tần Quốc Đống thực sự đã bị đánh. Thương tích không hề nhẹ, gãy hai xương sườn, mặt phải khâu bảy mũi.
Tần Quốc Đống vừa ra viện, nhìn thấy tôi phản ứng đầu tiên không phải là cảm kích vì tôi đến thăm, mà là chỉ thẳng vào mũi Hạ Chinh chửi mắng: “Chính nó sai người đánh tao!”
Hạ Chinh mặt vô biểu tình nhìn ông ta.
Tôi nói: “Ông có bằng chứng không?”
Tần Quốc Đống ấp úng không nói nên lời, nhưng Triệu Lan Lan đứng bên cạnh lại đổ thêm dầu vào lửa: “Mày từ chối giúp đỡ đã đành, lại còn đánh người! Tụi mày có còn mặt mũi không hả?”
Tôi quay lại nhìn Hạ Chinh.
Anh lắc đầu, ra hiệu không phải anh làm.
Tôi tin anh.
Dù tôi mới quen anh chưa đầy bảy ngày, nhưng tôi tin anh.
Bởi vì với năng lực của Hạ Chinh, nếu anh muốn ra tay với Tần Quốc Đống, thì không bao giờ có chuyện để cho đối phương tỉnh táo mà đi tố cáo được.
Vậy ai đã đánh?
Tối hôm đó, Hạ Chinh tra ra đáp án.
Kẻ đánh Tần Quốc Đống là đám tay sai của Mã Thủ Minh.
Nguyên nhân rất đơn giản — sau khi đụng phải đinh nhọn ở chỗ tôi, Mã Thủ Minh quay về thăm dò bối cảnh của Hạ Chinh. Thân phận Tiểu đoàn trưởng Đặc nhiệm khiến gã nhận ra con đường này không đi được nữa, gã không định tìm tôi gây chuyện.
Nhưng khoản nợ 45 vạn không thể không đòi.
Thế là gã tìm đến người bảo lãnh Tần Quốc Đống.
Bắt Tần Quốc Đống trả không được, thì đánh. Đánh xong xúi Tần Quốc Đống đi báo cảnh sát đổ tội cho Hạ Chinh, đúng là một mũi tên trúng hai đích — vừa gây rắc rối cho Hạ Chinh, vừa ép Tần Quốc Đống phải gấp gáp đi tìm tôi đòi tiền.
“Tên Mã Thủ Minh này cũng thông minh phết.” Hạ Chinh nhận xét cứ như đang đánh giá chiến thuật của đối thủ vậy.
“Thông minh? Hắn đang hại bố em đấy!”
Câu này buột miệng thốt ra xong, chính tôi cũng sững lại.
Tôi bận tâm đến Tần Quốc Đống từ lúc nào thế?
Không phải bận tâm, mà là bản năng. Dù người đàn ông này có khốn nạn đến mức nào, về mặt pháp lý ông ta vẫn là bố tôi.
Hạ Chinh nhìn nét mặt tôi, không nói lời nào.
Sáng sớm hôm sau, anh lại đi ra ngoài.
Lần này anh đi nguyên một ngày.
Đến 8 giờ tối anh mới về. Quần áo trên người có chút khác thường, ống quần dính bùn, mũi giày dính ít chất bẩn màu xám.
“Anh đi đâu thế?”
“Đi gặp Mã Thủ Minh một chuyến.”
“Anh đi tìm hắn?”
“Không phải tìm hắn. Là hẹn một địa điểm, bọn anh cùng uống tách trà.”
“Uống trà? Anh đi uống trà với một kẻ cho vay nặng lãi?”
“Giải quyết vấn đề đâu nhất thiết phải động tay động chân.”
Anh lấy từ trong túi ra một thứ, đặt lên bàn.
Là bản sao kê tài khoản ngân hàng.
Trên đó ghi chép chi tiết số tiền Triệu Bằng Phi đã vay từ tài khoản liên kết của Mã Thủ Minh trong vòng nửa năm qua — tiền gốc thực tế vay là 17 vạn, lãi mẹ đẻ lãi con lăn lên thành 45 vạn.
Mức lãi suất năm vượt xa giới hạn pháp luật bảo hộ.
“Đây là cho vay nặng lãi.” Tôi nhìn bản sao kê, “Phần vượt quá pháp luật quy định sẽ không được công nhận.”
“Đúng vậy. Thực tế hắn chỉ cần trả 17 vạn tiền gốc cộng với phần lãi suất hợp pháp, tổng cộng khoảng 22 vạn.”
“Sao anh lấy được thứ này?”
“Trò chuyện trên bàn trà thôi. Mã Thủ Minh làm ăn lớn, hắn không sợ người thường, nhưng hắn sợ hai loại người — quân nhân và kiểm tra kỷ luật. Anh nói với hắn, nếu hắn tiếp tục dùng các thủ đoạn phi pháp để đòi nợ, bước tiếp theo anh sẽ báo cáo tình hình qua các kênh chính thức. Đồng thời anh bảo hắn, 22 vạn có thể trả, nhưng cần thời gian. Hắn đồng ý rồi, cho thời hạn 3 tháng.”
“3 tháng? Tần Quốc Đống lấy đâu ra tiền mà trả?”
“Đó không phải là vấn đề của em.” Hạ Chinh đẩy bản sao kê sang một bên, “Đó là vấn đề của Tần Quốc Đống và Triệu Bằng Phi. 22 vạn, họ tự đi mà nghĩ cách.”
“Nhưng…”
“Tần Lộc.” Anh ngắt lời tôi, giọng không lớn nhưng vô cùng kiên quyết, “Em không nợ họ bất cứ thứ gì.”
Câu nói này giống như một nhát dao, dứt khoát cắt đứt sợi dây thừng vẫn luôn thít chặt lấy lòng tôi bấy lâu nay.
Trái tim tôi bỗng dưng nhẹ bẫng.
Đêm đó tôi mơ một giấc mơ.
Mơ thấy năm tôi 14 tuổi, ngày Tần Quốc Đống rời đi. Ông ta đeo một chiếc túi du lịch màu đen, đứng trước cửa nhà, nhìn tôi một cái, buông lại câu “sau này hai mẹ con sống cho tốt”.
Trong mơ, tôi đuổi theo, muốn gọi ông ta lại.
Nhưng ông ta đi quá nhanh.
Tôi vươn tay ra, bắt được một cánh tay.
Cánh tay thô ráp, mạnh mẽ và ấm áp.
Không phải của Tần Quốc Đống.
Mà là của Hạ Chinh.
Tôi tỉnh giấc.
Bên ngoài trời vẫn chưa sáng, phòng bên cạnh vang lên tiếng động rất khẽ.
Hạ Chinh đang chống đẩy. Nhịp độ đều đặn như máy đập nhịp, đúng 4 rưỡi sáng, sét đánh cũng không thay đổi.
8
Kỳ nghỉ đã qua một nửa.
Vào ngày thứ mười, trước cửa tiệm đỗ một chiếc xe Jeep quân sự.
Từ trên xe bước xuống là anh chàng đầu trọc hô “chào chị dâu” đầu tiên hôm nọ, Hạ Chinh gọi cậu ta là lão Hứa.
Lão Hứa nhìn thấy tôi, trước tiên cười hắc hắc hai tiếng, sau đó đứng nghiêm chào, “Chị dâu, trong trung đoàn có việc gấp, cần tìm Tiểu đoàn trưởng.”
Hạ Chinh từ bếp bước ra, nhìn thấy lão Hứa, sắc mặt liền thay đổi.
Bọn họ ra ngoài tiệm nói chuyện khoảng 5 phút.
Tôi không nghe được nội dung, nhưng thấy nét mặt Hạ Chinh ngày càng sầm xuống.
Lúc quay vào, Hạ Chinh nhìn tôi im lặng một lúc.
“Sao thế?”
“Cấp trên có nhiệm vụ, bắt anh phải về sớm.”
Tim tôi hẫng đi một nhịp.
“Khi nào đi?”
“Ngày kia.”
Ngày kia.
Nghĩa là anh chỉ còn lại hai ngày.
Chiều hôm đó quán mì đóng cửa sớm.
Hạ Chinh đưa tôi đến một hồ chứa nước ở ngoại ô Hạc Thành.
Chính là cái gọi là “câu cá” — ba năm trước chúng tôi quen nhau trên diễn đàn câu cá cũng là vì trò này.
Anh lấy từ trong xe Jeep ra hai cần câu gấp gọn, đưa cho tôi một cái.
Tôi không biết câu cá, nhưng ngồi trên bãi cỏ ven hồ nhìn mặt nước, bỗng nhiên cảm thấy những đoạn hội thoại trên diễn đàn ba năm trước đều trở nên chân thực.
“Anh còn nhớ lần đầu tiên chúng ta chat về chuyện gì không?” Tôi hỏi.
“Nhớ chứ. Em hỏi câu cá diếc dùng mồi gì là tốt nhất.”
“Anh bảo dùng giun đất trộn bột mì.”
“Em bảo em sợ sâu bọ.”
Tôi mỉm cười.
Anh nhìn chăm chăm mặt nước, phao câu bất động.
“Tần Lộc.”
“Vâng.”
“Công việc của anh không thể kể chi tiết được, nhưng em cần phải biết một chuyện — khi anh làm nhiệm vụ rất có thể sẽ mất liên lạc, không phải vài ngày, mà có khi là vài tháng.”
“Em biết.” Trước đây vẫn thường xuyên như vậy mà.
“Nhưng trước đây em không biết anh làm nghề gì, em nghĩ anh là nhân viên kiểm lâm, mất liên lạc em có thể nghĩ là anh ở trong rừng mất sóng. Còn bây giờ em biết rồi, mất liên lạc có ý nghĩa thế nào, chắc em cũng hiểu.”
Điều anh muốn nói là sinh tử.
Tôi im lặng.
“Anh hỏi em một lần, em hãy trả lời anh nghiêm túc.” Anh thu lại ánh mắt, quay sang nhìn tôi, “Em có chấp nhận được không?”
Tôi nhìn vào mắt anh.
Trong đôi mắt ấy không có sự lạnh lẽo như lúc đối đầu với Mã Thủ Minh, cũng không có vẻ điềm nhiên như lúc nấu mì xắt rau hàng ngày. Có một thứ mà tôi chưa từng nhìn thấy ở anh.
Đó là sự bất an.
Người đàn ông chưa từng nao núng trước bất kỳ điều gì này, khi hỏi tôi câu đó, lại mang theo sự bất an.
“Hạ Chinh.”
“Ừ.”
“Em mở quán mì 5 năm, điều em sợ nhất không phải là ế khách, không phải người ta đến quậy phá, cũng không phải một mình khiêng vác đồ đạc. Điều em sợ nhất là lúc 2 giờ đêm cái tủ đông bị hỏng, bên ngoài thì mưa to gió lớn, em ngồi chồm hổm dưới đất một mình không biết phải làm sao.”
Anh không nói gì.
“Và rồi cuộc gọi của anh tới. Anh dạy em sửa suốt 40 phút đồng hồ.”
“Sau đó cái tủ đông ấy còn hỏng thêm hai lần nữa.”
“Đúng, và lần nào anh cũng nhấc máy.”
Tôi đặt cần câu xuống bãi cỏ bên cạnh.
“Em không sợ phải đợi anh. Em chỉ sợ có một ngày anh đột nhiên không còn gọi điện thoại tới nữa. Nhưng em cũng sẽ không vì sợ mà nói rằng em không chấp nhận.”
Anh nhìn tôi rất lâu.
Rồi anh tháo sợi dây chuyền mảnh trên cổ mình xuống. Trên dây treo hai thứ, một là thẻ quân nhân, một là vỏ đạn.
Anh gỡ vỏ đạn ra khỏi dây chuyền, đưa cho tôi.
“Đây là vỏ đạn trong lần thực chiến đầu tiên của anh. Giữ lấy nhé.”
Tôi siết chặt trong tay, vẫn còn vương hơi ấm của anh.
“Nếu như quá 6 tháng mà anh không có bất kỳ tin tức gì…”
“Đừng nói nữa.” Tôi ngắt lời anh.
Anh hơi khựng lại.
“Em nói em không sợ rồi. Anh đừng có tự lập di chúc cho mình nữa đi.”