Quy Tắc Của Ngôi Làng Không Tồn Tại

Chương 2



3.

 

Ngày thứ hai, tôi bị đ.á.n.h thức bởi những tiếng "cốc, cốc, cốc" gõ theo nhịp điệu đều đặn.

 

Đẩy cửa bước ra, tôi nhìn thấy một người đàn ông trung niên đang lui cui sửa hàng rào ngoài sân.

 

Ông ta khoác bộ đồ vải thô, động tác đủng đỉnh thong dong, mỗi nhát b.úa giáng xuống khoảng cách thời gian đều chuẩn xác y hệt nhau, hệt như một chiếc máy đếm nhịp.

 

Nhìn thấy tôi, ông ta dừng tay, khẽ mỉm cười.

 

Nụ cười ấy chuẩn mực đến độ, góc độ cong lên của khóe miệng, hay số lượng răng để lộ ra, đều như được đo ni đóng giày tính toán chi li vậy.

 

"Cậu tỉnh rồi à. Tôi tên là Trần Sơn, là thợ mộc của làng." Giọng nói ông ta đều đều, không chút âm điệu trầm bổng.

 

"Chào chú, cháu tên là..."

 

Tôi bỗng khựng lại, có chút đắn đo không biết có nên khai báo tên thật của mình hay không.

 

Ông ta dường như nhìn thấu sự bối rối của tôi.

 

"Tên gọi không quan trọng. Cậu tới đây làm người giữ làng, tất cả chúng tôi đều biết rõ. Sau này cậu cũng sẽ là người của làng Âm Sơn chúng tôi rồi."

 

Ông ta lại chỉ tay về phía chiếc bàn trong nhà tôi:

 

"Từ nay về sau mỗi ngày sẽ có người mang cơm đến cho cậu. Cậu cần gì thì cứ báo với trưởng làng là được. Trưởng làng ở phía Tây của làng, trước cửa nhà có trồng hai cây táo."

 

Dứt lời, ông ta lại vung b.úa tiếp tục gõ "cốc, cốc, cốc".

 

Tôi tần ngần đứng trước cửa quan sát một hồi, mới phát hiện ra ông ta chỉ đang lặp đi lặp lại một động tác duy nhất:

 

Nhổ một cây cọc gỗ lên, rồi lại lấy b.úa đóng nó xuống, lại nhổ lên, rồi lại đóng xuống.

 

Ánh nắng hắt lên mặt ông ta, nhưng trên gương mặt ấy chẳng hề lấm tấm một giọt mồ hôi nào, sắc mặt cũng vô cảm không chút d.a.o động.

 

Lòng tôi đ.á.n.h thót một cái, không dám nhìn thêm nữa, lẳng lặng lùi vào trong nhà.

 

Mấy ngày sau đó, tôi đi dạo loanh quanh trong làng, chạm mặt nhiều dân làng hơn.

 

Hết thảy bọn họ đều giống hệt ông Trần Sơn kia.

 

Thím Vương đầu làng, ngày ngày đều giặt lụa trên cùng một tảng đá, cuộn lụa ấy lúc nào cũng dài chừng đó, không vơi đi mà cũng chẳng đầy thêm.

 

Bác Lý trong làng, ngày ngày đều vác cuốc ra bờ ruộng cuốc đất, nhưng khu ruộng ấy chẳng trồng cấy thứ gì, chỉ toàn là bùn đất đen ngòm.

 

Lại có một đám đàn bà phụ nữ, mỗi ngày đều xúm xít dưới gốc hòe già khâu đế giày, miệng ngâm nga những điệu hát mà tôi nghe chẳng hiểu mô tê gì, nhưng kim chỉ trên tay họ dường như không bao giờ ngừng nghỉ.

 

Mỗi một người bọn họ đều đang thực hiện một công việc lặp đi lặp lại không ngừng.

 

Họ sẽ chủ động chào hỏi tôi, sẽ cười với tôi.

 

Nhưng nụ cười của bọn họ y chang ông Trần Sơn vậy, dập khuôn, đơ cứng, như thể đang đeo một chiếc mặt nạ.

 

Bọn họ với nhau dường như chẳng có lấy một cuộc giao tiếp nào.

 

Cả ngôi làng, ngoài tiếng động lặp đi lặp lại nhịp nhàng từ công việc của bọn họ ra, thì hoàn toàn câm lặng.

 

Tôi bắt đầu vỡ lẽ cái gọi là "quy củ" mà gã tài xế đón tôi hôm nọ nhắc đến có ý nghĩa gì.

 

Bản thân ngôi làng này được cấu thành từ vô vàn những "quy củ".

 

 

Tôi đ.á.n.h bạo bắt chuyện với bọn họ nhiều hơn, hỏi han vì sao họ cứ lặp đi lặp lại những công việc giống nhau.

 

Thím Vương mỉm cười đáp: "Thì ngày tháng cứ trôi qua như thế này mà."

 

Bác Lý lại nói: "Sống ở đời, kiểu gì cũng phải bới việc ra mà làm chứ."

 

Câu trả lời của họ kín kẽ đến mức không thể bắt bẻ, nhưng lại khiến tôi càng thêm rợn tóc gáy.

 

Tôi bắt đầu hoài nghi không biết bọn họ rốt cuộc có phải là người hay không.

 

Tôi lấy hết can đảm, lợi dụng lúc người phụ nữ tên thím Lưu đem cơm đến, vờ như vô ý chạm nhẹ vào tay bà ta một cái.

 

Lạnh ngắt, đơ cứng, hệt như một hòn đá lạnh.

 

Tôi rụt phắt tay lại, nụ cười trên mặt thím Lưu vẫn rập khuôn nguyên xi như cũ, coi như chẳng có chuyện gì xảy ra, đặt cà mèn cơm xuống rồi quay lưng đi thẳng.

 

Sống lưng tôi thoắt cái đã túa đầy mồ hôi lạnh ướt đẫm.

 

Đến lúc này tôi mới ngộ ra rằng, công việc của tôi không phải là giữ làng, mà là sinh sống cùng với một đám... "thứ gì đó".

 

Ngày ngày tôi tự giam lỏng mình trong cái sân này, lắng nghe những âm thanh nhịp nhàng không hồi kết vọng vào từ bên ngoài, có cảm giác bản thân mình sắp hóa điên rồi.

 

Niềm an ủi duy nhất níu giữ tôi là chiếc điện thoại cục gạch kia.

 

Từng ngày tôi mòn mỏi ngóng trông nó đổ chuông, nhưng nó chưa từng reo lên một tiếng nào.

 

Cứ như vậy, tôi dằn vặt vượt qua năm đầu tiên trong sự sợ hãi và giày vò tột độ.

 

4.

 

Bước sang năm thứ hai, tình cảnh lại trở nên quỷ dị hơn.

 

Tôi bắt đầu thích nghi với sự tịch liêu của làng và vở kịch cứng nhắc của những người dân nơi đây.

 

Để bản thân không phát rồ, tôi xới đất trồng rau ngoài vườn.

 

Tôi cuốc đất, gieo hạt, tưới tắm.

 

Khi dân làng đi ngang qua, bọn họ sẽ nán lại nhìn tôi, nụ cười trên môi vẫn công nghiệp hệt như trước, nhưng trong ánh mắt dường như lại pha lẫn thêm thứ cảm xúc gì đó mập mờ.

 

Một ngày nọ, trưởng làng tìm đến tôi.

 

Trưởng làng trông trạc ngoài sáu mươi tuổi, tên là Triệu Lập, dáng dấp gầy gò ốm nhom nhưng lại minh mẫn quắc thước đến mức khó tin, lưng lúc nào cũng thẳng tắp.

 

Ông ta đứng chôn chân trước luống rau của tôi, nhìn chằm chằm vào những cây cà chua, dưa chuột tôi vun trồng, trên gương mặt lần đầu tiên hiện lên biểu cảm vượt ra khỏi cái nụ cười công nghiệp kia.

 

Đó là một trạng thái vô cùng phức tạp đan xen giữa hoài niệm và châm biếm.

 

"Đã lâu lắm rồi... chưa từng nhìn thấy những thứ này."

 

Ông ta từ tốn nhả từng chữ, chất giọng the thé như phát ra từ một cái giếng cạn.

 

"Trong làng không trồng trọt gì sao ạ?" Tôi thăm dò cẩn thận.

 

Ông ta lắc đầu: "Trồng không được. Chúng tôi... không trồng ra được sinh vật sống."

 

Bụng tôi đ.á.n.h thót một cái, bàng hoàng cúi đầu nhìn những luống rau đang mọc lên xanh mơn mởn.

 

"Cậu thì khác." Ông ta dường như đọc thấu tâm can tôi.

 

Hôm ấy, ông ta nán lại tâm sự cùng tôi rất nhiều.

 

Ông ta bảo, những quy củ của làng Âm Sơn đều là muốn tốt cho mọi người, chỉ cần tôi biết giữ phận an bài, hết hạn ba năm, ắt sẽ để tôi bình an rời đi.

 

Lời của ông ta nửa là dỗ dành xoa dịu, nửa lại mang hàm ý răn đe.

 

Lúc chuẩn bị kết thúc câu chuyện, ông ta găm c.h.ặ.t ánh mắt vào tôi thốt lên:

 

"Người trẻ tuổi, tò mò quá đáng không phải là chuyện tốt. Có những cánh cửa dù không khóa, cũng không có nghĩa là cậu được phép tự tiện đẩy ra."

 

Nơi ông ta nhắc tới chính là từ đường họ Triệu ở phía Tây của làng.

 

Đây là nơi sặc mùi thần bí nhất của ngôi làng, quanh năm suốt tháng cổng đóng then cài kín mít.

 

Mỗi ngày, đợi sau khi quá trình "lao động" kết thúc, tất thảy dân làng đều nối đuôi nhau lầm lũi đi vào trong từ đường, rồi cánh cổng lớn đóng sầm lại.

 

Mãi cho đến tận tảng sáng tinh sương hôm sau bọn họ mới lũ lượt đi ra ngoài, lại trở về với "vị trí" của riêng mình.

 

Nơi đó, chẳng khác nào "phòng sạc pin" hay "nhà xác" của bọn họ.

 

Tôi vẫn luôn nung nấu ý định rình mò xem bên trong rốt cuộc có thứ gì, nhưng những lời nói sắc như d.a.o của trưởng làng đã dập tắt cái ý đồ ấy.

Chương trước Chương tiếp
Loading...